Ở miền gần đỉnh ngọn, nơi mà các phân sinh thứ cấp chưa hoạt động thì thân có cấu tạo sơ cấp. Trên lát cắt ngang thân non, người ta phân biệt các vùng từ ngoài vào trong: biểu bì, vỏ sơ cấp, vỏ trong, trụ giữa và ruột .
Ở miền gần đỉnh ngọn, nơi mà các phân sinh thứ cấp chưa hoạt động thì thân có cấu tạo sơ cấp. Trên lát cắt ngang thân non, người ta phân biệt các vùng từ ngoài vào trong: biểu bì, vỏ sơ cấp, vỏ trong, trụ giữa và ruột .
Biểu bì là mô bì sơ cấp của thân, được hình thành từ
lớp nguyên bì của mô phân sinh ngọn, gồm một tế bào sống, không chứa diệp lục
làm chức năng bảo vệ. Biểu bì của thân có cấu tạo khác với tế bào biểu bì ở rễ
và lá, gồm những tế bào hơi kéo dài dọc theo thân và có ít lỗ khí.
Trong điều kiện khô hạn, tế bào biểu bì có lớp cuticun
phủ bề mặt ngoài tế bào, có tác dụng làm giảm mất nước, bảo vệ cây chống nấm
bệnh và vi khuẩn.
Tuỳ theo từng loại thân và điều kiện sống, biểu bì có
thể có các tế bào chuyên hoá như tế bào lông, lỗ nước ...

Câu hỏi gợi ý tìm hiểu bài:
-
Biểu bì của thân non có hình dạng cấu tạo như thế nào?
- Nêu
điểm khác nhau giữa biểu bì thân non và biểu bì rễ sơ cấp?
Vỏ sơ cấp nằm giữa biểu bì và mô dẫn, được hình thành
từ mô phân sinh cơ bản của mô phân sinh ngọn, gồm 2 loại mô: mô mềm vỏ và mô
dày; trong cùng của vỏ là lớp vỏ trong (nội bì).
-
Mô dày
Mô dày nằm sát biểu bì của phần thân non, gồm các tế
bào sống có vách hoá dày không đều, tế bào dài ra khi cây phát triển. Mô dày có
chức năng nâng đỡ và bảo vệ cây. Trong thân cây hai lá mầm có tất cả các kiểu
mô dày, nhưng mô dày góc là phổ biến nhất. Mức độ phát triển của mô dày không
đều, ở một số loài cây (bầu, bí, khoai tây ...) chúng phát triển rất mạnh, nhưng
lại kém phát triển ở một số loài cây khác.
-
Mô mềm vỏ
Mô mềm vỏ nằm phía trong mô dày, gồm những tế bào có
kích thước lớn. Tế bào mô mềm đặc trưng bởi các khoảng gian bào khá lớn, chúng
thường chứa diệp lục, làm thân non có màu lục.
Mô mềm đảm nhận nhiều chức năng của cây như: quang
hợp, bài tiết, nâng đỡ, dự trữ.
Trong dịch tế bào mô mềm có thể có chứa đường, axit
amin, cacbon hiđrat; còn trong chất tế bào thường dự trữ tinh bột, protein và
lipit; ngoài ra còn chứa nhiều tanin, tinh thể muối vô cơ như oxalat canxi.
Những cây sống ở dưới nước có cấu tạo vỏ chủ yếu bởi
mô mềm với nhiều khoảng gian bào nên xốp (cây rau dừa nước).
-
Vỏ trong (nội bì)
Vỏ trong là lớp trong cùng của vỏ sơ cấp, gồm một tế
bào sống chứa nhiều hạt tinh bột. Một số loài cây thân cỏ thuộc ngành hạt kín,
vỏ trong cũng có đai caspari như ở rễ.
So với rễ thì vỏ trong ở thân phát triển yếu hơn và
đôi khi không phân biệt với các phần mô mềm của vỏ.
Trong các thân ngầm, vỏ phát triển mạnh hơn so với
thân ở trên mặt đất.
Câu hỏi gợi ý tìm hiểu bài:
Trong cấu tạo sơ cấp của thân,
mô dày nằm ở vị trí nào?
Ở các thực vật hạt kín, cây chỉ có một trụ giữa. Trụ giữa gồm vỏ trụ, hệ dẫn, ruột và tia ruột.
-
Vỏ trụ (trụ bì)
Vỏ trụ là lớp ngoài cùng của trụ giữa, cấu tạo bởi 2
hay nhiều lớp tế bào. Các tế bào vỏ trụ thường xếp xen kẽ với tế bào vỏ trong.
Vỏ trụ có nguòn gốc từ mô phân sinh sơ cấp, có khả năng phân chia cho ra các mô
vĩnh viễn (mô cơ và mô cơ bản). Mô cơ được hình thành từ vỏ trụ gọi là sợi vỏ
trụ hay còn gọi là sợi libe (vì nó sát với phần libe của bó mạch) như sợi lanh,
sợi gai. Vỏ trụ cũng có thể hình thành nên các ống nhựa mủ và ống tiết.
-
Hệ dẫn: dưới vỏ trụ là các yếu tố dẫn nhựa của thân cây, tập
hợp thành hệ dẫn.
Hệ dẫn ở thân không xếp thành từng bó libe và bó gỗ
riêng biệt xen kẽ nhau như ở rễ mà tạo thành các bó dẫn xếp chồng, với libe nằm
ngoài, gỗ nằm trong (còn gọi là bó libe - gỗ). Một số loài lại có bó dẫn kiểu
chồng kép, hay bó đồng tâm.
Trong bó gỗ, các mạch
gỗ nhỏ ở phía trong, mạch gỗ to ở phía ngoài, mạch gỗ phát triển dần từ
trong ra ngoài. Như vậy có sự phân hoá li tâm (ở rễ, gỗ phân hoá hướng tâm).
Giữa libe và gỗ là tầng trước phát sinh, gồm các tế
bào vách mỏng, dẹt theo hướng xuyên tâm.
Trong cấu tạo sơ cấp, các bó dẫn ở thân xếp theo một
vòng đều đặn (trường hợp đặc biệt như ở cây trầu không, bó dẫn xếp thành 2
vòng) hoặc thành trụ gần như liên tục chỉ để lại những tia ruột rất hẹp.
Số bó dẫn trong thân thay đổi theo tuổi cây. Ơ phần
thân rất non (trụ mầm) có số bó dẫn ít, càng về sau càng tăng dần do có thêm bó
dẫn đi vào lá.
- Ruột và tia ruột
Những dãy mô mềm ở giữa 2 bó dẫn là tia ruột; còn ở
phía trong các bó dẫn có một khối mô mềm gọi là ruột. Tia ruột và ruột đều có
nguồn gốc từ mô phân sinh ngọn.
Tia ruột nối giữa phần vỏ với phần ruột của thân, làm
chức năng dẫn truyền. Số lượng, kích thước của tia ruột phụ thuộc vào loài cây,
tuổi cây và số lượng bó dẫn trong cây.
Ruột có chức năng dự trữ. Một số cây trong ruột có ống
nhựa mủ, ống tiết, các tinh thể.
Có những loài cây có ruột rỗng (các cây thuộc họ hoa
tán) do tế bào ruột ngừng phân chia ngay từ khi thân còn đang phát triển theo
chiều dài, sau đó các tế bào bị vỡ ra, khô đi, tạo nên một khoang trống trong
ruột.
Những thân cây trong họ lúa, vách ngăn giữa các gióng
được giữ lại tạo thành mấu ngăn giữa các gióng rỗng.
Câu
hỏi gợi ý tìm hiểu bài:
- Nêu nhận xét về sự sắp xếp các bó libe và
bó gỗ? Sự sắp xếp này có những đặc điểm nào khác so với ở rễ sơ cấp?